Hiển thị các bài đăng có nhãn câu hỏi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn câu hỏi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP KHI SỬ DỤNG MÁY PHÁT ĐIỆN (P3)

ban may phat dienCâu hỏi: Dung lượng bình ắc quy 100Ah mang ý nghĩa gì? Nó dùng được bao lâu với dòng điện phóng ra là bao nhiêu? Máy khởi động có ghi là 4KW, 12V. Vậy là dòng điện phải cấp cho máy khởi động là bao nhiêu mới đủ định mức?

Và bình ắc quy phải có dung lượng bao nhiêu thì đủ để cấp cho máy phát điện khởi động?
Acquy cho máy phát điện, máy phát điện, may phat dien
ban may phat dienTrả lời:

1) Cấu tạo của bình ắc quy khởi động (gọi tắt là BAQ) loại axít/chì:

- Bản cực âm: làm bằng chì nguyên chất Pb (nằm phía ngoài)

- Bản cực dương: làm bằng dioxide chì PbO2 (nằm phía trong)

- Lá cách: nằm giữa bản dương và bản âm, cách điện nhưng cho dung dịch acid thấm qua dễ dàng

- Dung dịch: là acid sulfuric (H2S04) nồng độ 35%

- Cọc bình: cọc dương nối toàn bộ bản dương của một ngăn và đưa ra ngoài vỏ bình để kết nối.
Tương tự cho cọc âm

- Vỏ bình: thường làm bằng nhựa polimer

- Mắt báo tỉ trọng: Mắt này nằm trên nắp bình và có tác dụng chỉ thị dung lượng điện nạp trong bình thông qua tỉ trọng dung dịch acid.

Một ngăn BAQ như nói trên cho điện thế danh nghĩa 2V. BAQ 12 V thường có 6 ngăn như vậy.

ban may phat dien2) Dung lượng của BAQ:

- Dung lượng: là tích số giữa dòng phóng điện và thời gian phóng điện đo theo chế độ dòng phóng điện = 1/10 dung lượng. Thí dụ BAQ 100Ah có thể phóng được dòng điện 10A trong thời gian liên tục 10h. Tuy nhiên như dưới dưới đây giải thích, để tránh bị sulfate hoá, BAQ chỉ nên phóng tới 50% dung lượng và sau đó phải nạp lại.

- Dung lượng giảm sút nhiều khi cho phóng điện với dòng điện lớn. Ở chế độ khởi động, thí dụ như 12V/ 4kW, thì dòng phóng điện là 4000W / 12V = 330A. Trong trường hợp này chỉ cho phép phóng 7 – 10 lần, mỗi lần không quá 15 – 20s để tránh phá huỷ bản cực (nghĩa là cho phép dùng khoảng 1/4 dung lượng để khởi động).
ban may phat dien3) Chu trình phóng nạp của BAQ:

- Khi bình đã đầy điện:

Điện thế khi hở mạch: 12,6 – 12,8V (đo sau khi ngắt sạc đủ lâu)

Tỉ trọng dung dịch: 1,260 kg/l.

- Khi phóng điện:

Các bản cực phản ứng với H2S04 và cùng biến dần thành sulfate chì PbS04.

Điện thế giảm dần.

Tỉ trọng dung dịch giảm dần.

- Khi hết điện:

Điện thế giảm tới 11,8 – 12,0V khi hở mạch (tới 10,5V khi có gánh tải).

Tỉ trọng dung dịch khi hết điện có thể giảm tới 1,200-1,230. Tỉ trọng đo bằng một tỉ trọng kế, hoặc nhiều trường hợp BAQ có gắn sẵn tỉ trọng kế. Thông thường tỉ trọng kế chỉ màu xanh là đầy điện và đỏ là cần phải nạp.

- Khi nạp điện:

PbS04 được giải phóng thành Pb trên cực âm và Pb02 trên cực dương và giải phóng ra H2S04.

Nạp nhanh: điện thế nạp 14,5-15,0V. Cho phép nạp không quá 2 giờ và ngừng ngay khi BAQ phát nóng và dung dịch sủi bọt dữ dội. Máy nạp nhanh phải có chức năng giới hạn dòng điện.

ban may phat dienNạp cầm chừng: điện thế nạp 13,8V.

- Nạp phục hồi BAQ bị sulfate hoá: nạp bằng máy nạp chuyên dùng có dòng điện không đổi = 1/10 dung lượng bình.

Dụng cụ để bảo dưỡng ắc quy tối thiểu phải có là: đồng hồ vol kế, ống đo tỉ trọng.
ban may phat dien4) Các hư hỏng của BAQ:

- Tự phóng điện qua mức: mức tự phóng điện cho phép không quá 20%/ tháng. Thông thường BAQ đã cũ có lớp bột chì rơi rụng nhiều, ngắn mạch giữa các bản cực và làm tăng độ phóng điện.

- Giảm dung lượng: BAQ sẽ giảm dần dung lượng sau khoảng thời gian sử dụng, và giảm nhanh nếu phóng nạp nhiều lần. Đó là do bản cực dương bị rơi rụng dần lượng Pb02 khi phóng điện.

- Tăng nội trở: BAQ dùng đã lâu có hiện tượng tăng nội trở, nghĩa là phóng dòng điện lớn = 3-4 lần dung lượng (khởi động động cơ) thì điện áp trên cọc bình sụt xuống dưới 10,5 V và có thể làm các linh kiện điện tử của thiết bị không hoạt động. Thí dụ với BAQ 100Ah, nội trở lớn nhất cho phép là: 2V/400A = 0,005 Ohm. BAQ càng lớn dung lượng thì nội trở càng nhỏ.

- Cạn dung dịch: sau nhiều lần phóng nạp, dung dịch có thể cạn dần do bay hơi. Khi đó bổ sung bằng nước cất. Tuy nhiên với các BAQ hiện đại, đóng kín, việc cạn dung dịch cũng là dấu hiệu của bình gần hết tuổi thọ.

- Sulfate hoá: BAQ để lâu trong tình trạng hết điện hoặc cạn dung dịch thì PbS04 trở thành các tinh thể trắng xám. Khi đó rất khó khử tinh thể này để trở lại Pb và PbO2. Phải dùng chế độ nạp phục hồi bằng máy nạp đặc biệt như nói trên.
ban may phat dien

5) Tính toán dung lượng cần thiết của BAQ theo công suất máy khởi động:

- Công suất máy khởi động: P = 4kW

- Điện thế làm việc: U = 12V

- Dòng điện khởi động I = P/U = 4000/ 12 = 330A

- Dung lượng cần thiết để khởi động 10 lần x 15 s = 0,04h: 330A x 0,04h = 13Ah

- Dung lượng cần thiết của BAQ mới = 13Ah x 4 = 52Ah

Nếu dự phòng BAQ bị giảm 1/2 dung lượng mà vẫn dùng được dung lượng cần thiết là 104Ah.

Nếu điện thế làm việc ở 24V thì tính toán như trên ra dung lượng, nhưng phải dùng 2 bình cùng dung lượng này

(Nguồn Internet)

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP KHI SỬ DỤNG MÁY PHÁT (P2)

ban may phat dienCâu hỏi: máy phát điện chạy bình thường ở mức tải 94% tải. Nếu tăng tải lên 100% thì máy phát điện chạy khoảng 15 phút sẽ bị sụm và tắt. Nếu ngay vào thời điểm sụm máy mà giảm tải kịp thời thì máy sẽ phục hồi trở lại bình thường. Đã kiểm tra hệ thống nhiên liệu, hệ thống nạp gió, nhưng chưa tháo kiểm tra các turbo.

Khi máy chạy một bên turbo rất đỏ và một bên ít hơn. Khói xả và tiếng nổ bình thường. Khi máy sụm thì có khói đen mù mịt. Nhiệt độ khi máy phát điện gánh tải lớn 94% và khi sụm ở mức 90 – 93 độ C.


Máy phát điện, bán máy phát điện, cho thuê máy phát điện

ban may phat dien

Trả lời:
ban may phat dienNguyên nhân gây ra khói đen: Khói đen là muội than do nhiên liệu cháy không hết. Nghĩa là loại trừ yếu tố nhiên liệu phun vô động cơ bị thiếu. Kết luận nguyên nhân là thiếu không khí nạp.
Nguyên nhân gây ra thiếu không khí:

ban may phat dienĐường dẫn khi nạp thông qua lọc gió => turbocharger (để tăng áp suất khí nạp vô) => két làm mát khí nạp/ intercooler (để làm mát khi nạp sau tăng áp) => nạp vô động cơ.
ban may phat dien1) Nghẹt lọc gió.
2) Turbocharger bị kẹt, hoặc gãy cánh. Nếu kiểm tra bằng tay, không phải nguyên nhân này thì do dầu nhớt phẩm cấp API kém (dưới mức CF) bôi trơn turbo kém.
3) Intercooler (két làm mát khí nạp): không khí sau khi tăng áp sẽ bị nóng lên và giảm tỉ trọng khí, tức là giảm khối lượng khí dù có được tăng áp.

ban may phat dienVì vậy cần có intercooler để làm mát khi đã tăng áp, tức là tăng khối lượng khí nạp vô. Làm mát kém sẽ làm thiếu khối lượng khí nạp vô dù turbocharger chạy tốt. Dấu hiệu của chuyện này là đường khí nạp sau intercooler nóng quá mức ( > 50-60 độ C, không sờ tay được). Làm mát kém cũng làm đỏ turbo do áp suất sau turbo tăng quá mức, cản trở turbo nhiều.
ban may phat dienLàm mát khí nạp kém cần kiểm tra:
ban may phat dien- Xem có giẻ lau bỏ quên lọt vô ống khí sau turbo, chui vô két làm mát intercooler không?
- Xem có nilon hoặc carton che dòng khí của quạt thổi qua két không?
- Nếu hai chuyện trên không có thì tăng tốc độ quạt gió khoảng 10% bằng cách thay đổi đường kính puli.
- Nếu cấu tạo không cho phép thay đổi đường kính puli thì có thể dùng một quạt gió phụ chạy điện 220/380V khoảng 5kW, hoặc dùng mô điện 1500v/ph kéo chính cái quạt gió nguyên thủy và tính toán puly để tăng tốc độ quạt.

PSX đã kiểm tra, đã cho tăng tốc quạt gió và loại trừ tất cả các nguyên nhân nói trên, nhưng vẫn không khắc phục được. Nhưng họ cho biết có hiện tượng như sau: khi chạy hết tải, ồng nạp khí từ lọc gió tới turbocharger bị móp vô.

Như vậy đã rõ: Nhà sản xuất chọn lọc gió cho động cơ P222LE nhỏ quá so với công suất máy phát điện . Khi lượng không khí thông qua lớn khi chịu tải lớn, lọc gió cản trở gây ra áp suất chân không làm móp ống. Biện pháp khắc phục là thay lọc gió lớn hơn (diện tích thông qua lớn hơn).


ban may phat dienThông thường ở lọc gió có một cái chỉ báo nghẹt lọc. Khi bị nghẹt thì chi tiết màu đỏ của cái chỉ báo bị hút mạnh ra lộ ra để báo cho ta thấy.

(Nguồn Internet)